Tự chủ đại học: Bất cập chồng chéo trong quy định pháp luật về nhân sự

0
23


multilifevn – Các quy định mới về tự chủ trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi và các văn bản pháp quy liên quan dễ nhận thấy bất cập và sự vướng mắc giữa các luật và các quy định trong khung pháp lý hiện hành.

Trong bài viết: “Một số bất cập trong xây dựng cơ chế chính sách để đáp ứng quyền tự chủ về quản lý nhân sự của trường đại học thành viên thuộc đại học vùng ở Việt Nam”, tác giả Trương Tuấn Linh và Nguyễn Phương Thảo, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên đã có chỉ ra những bất cập vướng mắc giữa các luật và các quy định trong khung pháp lý hiện hành.

Tự chủ đại học: Bất cập chồng chéo trong quy định pháp luật về nhân sự - 1

Sự chồng chéo trong quy định của pháp luật

Theo quy định mới nhất của Chính phủ tại Nghị định 99/2019/NĐ-CP được hiểu là “quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học”.

Tuy nhiên, khi phân tích các quy định mới về tự chủ trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi và các văn bản pháp quy liên quan, không khó để nhận thấy bất cập và sự vướng mắc giữa các luật và các quy định trong khung pháp lý hiện hành.

Ví dụ, theo Khoản 4, Điều 32 Luât Giáo dục đại học tại Văn bản hợp nhất số 42/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 cũng như tại Khoản 2, Điều 13 Nghị định  99/2019/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học quy định rõ:

Cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự theo quy định của Luật giáo dục đại học, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học và các quy định hiện hành về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; về số lượng người làm việc và vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, có quyền tự chủ về tổ chức, bộ máy và nhân sự để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhưng không được làm tăng số lượng người làm việc hưởng lương, mức lương (bao gồm cả lương và phụ cấp) từ quỹ lương do ngân sách nhà nước cấp;…” và “… Các cơ sở giáo dục đại học phải ban hành, tổ chức thực hiện quy định nội bộ về tổ chức bộ máy và nhân sự; thực hiện các quyền tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự khác…” theo quy định của pháp luật.

 Trong đó tổ chức bộ máy ở đây được hiểu là cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục đại học bao gồm hội đồng trường, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; hội đồng khoa học và hội đồng khác; khoa, phòng chức năng, thư viện, tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức phục vụ đào tạo khác. Trong khi nhân sự ở đây lại chưa được định nghĩa cụ thể mà chỉ đề cập đến đội ngũ bao gồm giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động.

Tuy nhiên theo Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thực hiện lại có sự không đồng nhất. Ví dụ cụ thể tại Điều 7, Nghị định 16/2015/NĐ-CP Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (còn hiệu lực thi hành) quy định “Đơn vị sự nghiệp công xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và quản lý viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật; thuê hợp đồng lao động để thực hiện nhiệm vụ”;

Nhưng tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định 161/2018/NĐ-CP lại quy định rằng, đơn vị sự nghiệp công lập không thực hiện việc ký hợp đồng lao động đối với “Những người làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ ở các vị trí việc làm được xác định và công chức trong cơ quan hành chính hoặc viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên”.

Như vậy, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên chỉ được tuyển dụng viên chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ như giảng viên, kỹ sư, chuyên viên …

Vấn đề đặt ra ở đây là khi nhà nước muốn giao quyền tự chủ về nhân sự (bao gồm tuyển dụng, sử dụng, chấm dứt hợp đồng, sa thải) cho các đơn vị giáo dục sự nghiệp công lập (được nhà nước đảm bảo toàn bộ  hoặc một phần chi thường xuyên) nhưng lại yêu cầu chỉ được tuyển dụng viên chức, trong khi số lượng biên chế Nhà nước cấp hàng năm là có hạn, số lượng biên chế không đảm bảo để thực hiện các nhiệm vụ trong đơn vị.

Ngoài ra, đối với một số loại hợp đồng như hợp đồng thỉnh giảng đối với đối tượng không phải là công chức, viên chức hay hợp đồng với người lao động cao tuổi lại không thể sử dụng chính sách tuyển dụng viên chức với những đối tượng này mà bắt buộc phải sử dụng hợp đồng lao động và tuân thủ theo các quy định của Bộ luật Lao động.

Trong tiến trình tiến tới tự chủ đại học nói chung hay tự chủ về nhân sự nói riêng, các cơ sở giáo dục sự nghiệp công lập chắc chắn sẽ gặp phải vướng mắc với quy định này.

Trước đây khi văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định rõ và chi tiết đối với việc tuyển dụng nhân sự tại các cơ sở giáo dục công lập, hầu như các đơn vị sử dụng hai hình thức tuyển dụng: tuyển dụng viên chức và tuyển dụng hợp đồng lao động để đáp ứng được các hoạt động nghề nghiệp của đơn vị. Như vậy, trong các đơn vị này, bắt buộc phải áp dụng song song 02 bộ luật là Luật Viên chức và Bộ luật Lao động…

Tuy nhiên khi áp dụng Luật Viên chức trong quá trình sử dụng nhân sự lại gặp rất nhiều khó khăn, ví dụ như hiện nay khi xảy ra tranh chấp về hợp đồng làm việc như đền bù chi phí đào tạo, kỷ luật lao động… luật lại yêu cầu thực hiện như Luật Lao động trong khi các quy định của hai luật không hoàn toàn đồng nhất.

Hầu như các trường đại học sử dụng mã ngạch, hệ số lương của công chức, viên chức để áp dụng sang cho người lao động mà theo quy định thì việc sử dụng mã đối với lao động là không cần thiết hoặc mức lương cho người lao động phải áp dụng các quy định của Bộ luật lao động và phải sử dụng mức lương tối thiểu vùng làm căn cứ để chi trả.

Thực tế cho thấy, đối với một giảng viên được ký hợp đồng lao động của mã ngạch giảng viên 15.111, tổng lương khởi điểm được tính: 2.34 x mức lương cơ sở + 0.25% đứng lớp, nhưng tổng mức lương này vẫn chưa thể bằng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Bộ luật Lao động.

Tự chủ đại học: Bất cập chồng chéo trong quy định pháp luật về nhân sự - 2

Đại học Thái Nguyên đang gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện tự chủ

 Đại học vùng bị suy giảm rõ rệt

Vào đầu thập niên 1990, theo yêu cầu của Chính phủ về chủ trương xây dựng một số trường đại học mạnh cho nước ta phục vụ quá trình đổi mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị xây dựng hai đại học quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ba đại học vùng Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng theo mô hình đại học đa lĩnh vực. Ngoài ra, Đại học Cần Thơ đã duy trì mô hình đại học đa lĩnh vực vốn có từ  trước năm 1975.

Mục đích của việc thành lập đại học vùng – đại học đa lĩnh vực để đảm bảo đào tạo tốt các chương trình “giáo dục khai phóng” (hoặc “giáo dục đại cương”)…

Tuy nhiên, qua 20 năm tồn tại và phát triển, mặc dù đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong bối cảnh các đại học công lập được trao quyền tự chủ thì vai trò của đại học vùng ngày càng trở nên mờ nhạt, không phát huy được lợi thế cạnh tranh của mình.

Đặc biệt, với việc các trường đại học thành viên được trao quyền tự chủ thì quyền hạn, chức năng, vai trò của đại học vùng bị suy giảm rõ rệt, nguy cơ giải thể đại học vùng là điều có thể sảy ra.

Hiện nay, các đại học vùng và các đơn vị thành viên đang thực hiện tổ chức và hoạt động theo Luật Giáo dục đại học; Nghị định số 99/2019/NĐ-CP; Thông tư số 10/2020/TT – BGDĐT, Nghị định 115/2020/NĐ-CP, Nghị định 161/2018/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ – CP…, tuy nhiên, quyền hạn của đại học vùng và các đơn vị thành viên trong bối cảnh tự chủ chưa được đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng, điều này đã dẫn tới nhiều bất cập trong vận hành hệ thống.

Đại học vùng và các đơn vị thành viên là đơn vị sự nghiệp công lập, tự chủ một phần kinh phí và phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp, đảm bảo một phần ngân sách chi thường xuyên. Đối tượng làm việc tại đây gồm công chức, viên chức và người lao động. Do vậy, việc quản lý nhân sự bị điều chỉnh bởi Luật Công chức, Luật Viên chức, Luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và các văn bản pháp quy khác có liên quan.

Tại Đại học Thái Nguyên, hiện văn bản pháp quy nội bộ cao nhất là của Giám đốc Đại học Thái Nguyên về việc ban hành Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Đại học Thái Nguyên, các cơ sở giáo dục đại học thành viên và đơn vị trực thuộc và nhiều văn bản khác từ năm 2015.

Tuy nhiên, các văn bản quản lý này căn cứ vào Thông tư 08/2014/TT- BGDĐT ngày 14/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học vùng và các đơn vị thành viên nay đã được thay thế bằng Thông tư 10/2020/TT- BGDĐT ngày 14/5/2020 nên hiện nay gặp nhiều vướng mắc.

Theo tác giả Trương Tuấn Linh và Nguyễn Phương Thảo, mô hình đại học vùng – đại học hai cấp không hiệu quả, liên kết lỏng lẻo, ràng buộc về mặt hành chính là chủ yếu. Các văn bản quản lý nội bộ không kịp thời, không đầy đủ. Nhìn chung, năng lực thực hiện tự chủ, đặc biệt tự chủ về tổ chức, nhân sự của nhiều trường đại học còn thấp.

Bên cạnh đó, nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ sở giáo dục đại học về tự chủ nói chung và tự chủ về quản trị nhân sự nói riêng chưa đầy đủ, thậm chí hiểu sai bản chất của khái niệm này. Ví dụ, đa phần mới chỉ quan tâm đến “quyền”, nhưng chưa hiểu về trách nhiệm giải trình đi kèm theo quyền. Các kỹ năng, kiến thức quản trị nhân sự tiên tiến gắn với tự chủ đại học cũng chưa được bồi dưỡng và huấn luyện đầy đủ.

Hiện nay, vai trò vị thế của Đại học Vùng so với hai Đại học Quốc gia vẫn còn rất khiêm tốn, hạn chế; cơ chế “bộ chủ quản” vẫn thể hiện rõ. Ngoài ra, việc tự chủ của các đơn vị thành viên khi Đại học Thái Nguyên chưa tự chủ là vấn đề nan giải, không dễ để tháo gỡ. Cơ cấu tổ chức như thế nào cho đại học vùng vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ.

“Chính sách, pháp luật của nhà nước cần đồng bộ, tránh xung đột, chồng chéo. Đồng thời cần phải nới lỏng thể chế, ràng buộc hơn nữa cho các cơ sở giáo dục công lập tiến tới tự chủ mà cụ thể ở đây là đối với vấn đề sử dụng nhân sự hiện tại.

Quản trị nhân sự không có định hướng chung và chậm triển khai theo thực tế, nhiều vướng mắc tự các trường phải tìm cách giải quyết chứ không được “hỗ trợ, hướng dẫn”. Thêm vào đó, phương thức, kỹ năng quản lý và quản trị không cập nhật, nặng tính hành chính và cơ chế “xin-cho” – nhóm tác giả góp ý.

Hồng Hạnh (ghi)

Nguồn: Báo Dân Trí

Đăng lại: https://multilifevn.com/
Xem thêm nhiều bài viết hơn tại: https://multilifevn.com/giao-duc

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây